• Trang chủ
  • Hỏi đáp
  • Đăng ký quỹ đạo vệ tinh

Hướng dẫn đăng ký và phối hợp tần số quốc tế cho mạng vệ tinh

18/01/2018

(rfd.gov.vn)- Bản hướng dẫn này được xây dựng nhằm giúp cho các cơ quan, tổ chức sử dụng hoặc có kế hoạch sử dụng tần số quỹ đạo vệ tinh hiểu rõ hơn các qui định liên quan tới việc đăng ký và phối hợp tần số quốc tế cho mạng vệ tinh.

MỤC ĐÍCH

Trước khi vệ tinh được phóng lên quỹ đạo thì các nước cần phải thực hiện việc đăng ký quỹ đạo và phối hợp tần số quốc tế. Quá trình này gồm nhiều thủ tục phức tạp được Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) quy định trong Thể lệ vô tuyến điện (Radio Regulations).

Trên thế giới, số lượng các vệ tinh được phóng lên quỹ đạo ngày càng tăng, kèm theo đó việc sử dụng phổ tần số vô tuyến điện dành cho thông tin vệ tinh cũng tăng lên nhanh chóng. Do vậy các qui định liên quan tới việc đăng ký và phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh ngày càng chi tiết, phức tạp.

Bản hướng dẫn này được xây dựng nhằm giúp cho các cơ quan, tổ chức sử dụng hoặc có kế hoạch sử dụng tần số quỹ đạo vệ tinh hiểu rõ hơn các qui định liên quan tới việc đăng ký và phối hợp tần số quốc tế cho mạng vệ tinh.

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ VÀ CỦA TỔ CHỨC SỬ DỤNG TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN VÀ QUỸ ĐẠO VỆ TINH

Việc đăng ký, phối hợp quốc tế về tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh được qui định tại Chương VI – Luật Tần số vô tuyến điện. Điều 42, chương VI của Luật Tần số vô tuyến điện quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, các Tổ chức sử dụng tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh:

1. Việc đăng ký, phối hợp quốc tế về tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh cho hệ thống vệ tinh được thực hiện theo quy định của Liên minh Viễn thông quốc tế.

2. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm:

a) Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh thực hiện đăng ký với Liên minh Viễn thông quốc tế;

b) Tổ chức việc phối hợp tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh với cơ quan quản lý tần số vô tuyến điện của các quốc gia theo quy định của Liên minh Viễn thông quốc tế;

c) Phê duyệt kết quả phối hợp tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh theo quy định tại Điều 44 của Luật này.

3. Tổ chức sử dụng tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh có trách nhiệm:

a) Thực hiện các quy định về đăng ký, phối hợp quốc tế về tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh của Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Trực tiếp phối hợp tần số vô tuyến điện với tổ chức nước ngoài theo quy định tại Điều 44 của Luật này;

c) Tham gia phối hợp tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh với cơ quan quản lý tần số vô tuyến điện của các quốc gia do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì;

d) Nộp phí đăng ký tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh theo quy định của Liên minh Viễn thông quốc tế;

đ) Thực hiện các biện pháp cần thiết để xử lý nhiễu có hại với hệ thống vệ tinh khác theo quy định của Liên minh Viễn thông quốc tế.

QUY ĐỊNH ĐĂNG KÝ, PHỐI HỢP TẦN SỐ/QUỸ ĐẠO VỆ TINH

1  Nguyên tắc chung

Việc đăng ký và phối hợp tần số quốc tế cho các mạng vệ tinh được thực hiện theo các quy định của Luật Tần số vô tuyến điện và Thể lệ vô tuyến điện (Radio Regulations). Các điều luật này xác định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý trong việc quản lý, sử dụng và khai thác tần số quỹ đạo vệ tinh. Thể lệ vô tuyến điện được Hội nghị thông tin Vô tuyến thế giới (WRC) xây dựng (có thể được sửa đổi, bổ sung sau mỗi kỳ Hội nghị WRC) dựa trên hai nguyên tắc chính: sử dụng hiệu quả và truy cập công bằng. Để các nguyên tắc này có hiệu lực, ITU thực hiện biện pháp (cơ chế):

  • Phân chia băng tần thành hai loại (băng tần qui hoạch và băng tần không qui hoạch), tương ứng với mỗi loại băng tần có các qui định, thủ tục khác nhau.
  • Phân chia quỹ đạo vệ tinh gồm hai loại: quỹ đạo địa tĩnh và quỹ đạo phi địa tĩnh, tương ứng có các qui định khác nhau.

Đối với băng tần Qui hoạch: các thủ tục qui hoạch ưu tiên (cho băng tần qui hoạch) bảo đảm công bằng trong việc sử dụng qũy đạo vệ tinh/phổ phổ tần trong tương lai bao gồm:

  • Phân bổ Quy hoạch đối với nghiệp vụ Cố định qua vệ tinh sử dụng băng tần C (6725-7025MHz/4500-4800MHz) và băng tần Ku (12.75-13.25GHz/10.70-10.95GHz/11.20-11.45GHz).
  • Quy hoạch đối với nghiệp vụ Quảng bá qua vệ tinh trong băng tần Ku/Ka
    (11.7-12.2GHz/14.5-14.8GHz/17.3-18.GHz).

Đối với băng tần không qui hoạch: Các thủ tục phối hợp với mục đích sử dụng hiệu quả quỹ đạo/phổ tần và môi trường hoạt động không có nhiễu nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tế gồm:

  • Các mạng vệ tinh địa tĩnh và các mạng vệ tinh phi địa tĩnh trong các băng tần cụ thể. Các mạng này tuân theo thủ tục xuất bản trước (Advance Publication of Information) và các thủ tục phối hợp liên quan.
  1. Đăng ký hồ sơ tần số quỹ đạo vệ tinh

Theo quy định của ITU trước khi đưa vệ tinh vào sử dụng thì các nước phải thực hiện các thủ tục sau:

  • Đăng ký hồ sơ: Chỉ cơ quan quản lý các nước thành viên của ITU mới được đăng ký hồ sơ mạng vệ tinh (các nhà khai thác mạng vệ tinh phải đăng ký thông qua cơ quan quản lý của họ).

Tùy từng băng tần cụ thể các nước phải nộp (đăng ký) các bộ hồ sơ sau: hồ sơ Xuất bản trước (hồ sơ API), hồ sơ Yêu cầu phối hợp (hồ sơ CR/C), hồ sơ Đăng ký vào Bảng tần số chủ (hồ sơ Notification), hồ sơ Về việc phóng vệ tinh (hồ sơ RS49). Các tham số phải khai báo được quy định theo Phụ lục 4 của Thể lệ vô tuyến điện.

  • Hồ sơ Xuất bản trước (Advance Publication of Information): gồm các thông tin sơ bộ về mạng vệ tinh như băng tần, vùng phủ khu vực hay toàn cầu, ngày đưa vệ tinh vào sử dụng.

Hiện nay, đối với mạng vệ tinh địa tĩnh không phải nộp hồ sơ Xuất bản trước theo quyết định của Hội nghị WRC-15 (thực hiện từ ngày 01/01/2017), các nước gửi hồ sơ Yêu cầu phối hợp thì ITU sẽ tự tạo ra hồ sơ Xuất bản trước.

Hồ sơ Xuất bản trước đối với băng tần qui hoạch có thể gửi trước 8 năm và không được gửi muộn hơn 2 năm so với thời điểm dự kiến đưa vệ tinh vào sử dụng. Đối với băng tần không qui hoạch có thể gửi trước 7 năm và không được gửi muộn hơn 2 năm so với thời điểm dự kiến đưa vệ tinh vào sử dụng

  • Hồ sơ Yêu cầu phối hợp: gồm các thông tin chi tiết về mạng vệ tinh như ấn định tần số, vùng phủ, công suất phát xạ, băng thông, đường kính anten, .... Các thông số cần đăng ký được quy định theo Phụ lục 4 của Thể lệ vô tuyến điện và phải đảm bảo mức công suất phát xạ (tại bề mặt trái đất, cung quỹ đạo địa tĩnh) không vượt các ngưỡng hạn chế tại các Điều 21, 22.

Ngoài ra, với mỗi đoạn băng tần đăng ký có thể có các Ghi chú (footnote) đi kèm qui định các điều kiện kỹ thuật, thủ tục để nghiệp vụ Cố định vệ tinh (FSS) có thể được sử dụng ở băng tần đó. Khi đăng ký hồ sơ phải đảm bảo các qui định này được tuân thủ.

Đối với mạng vệ tinh phi địa tĩnh, hầu hết các mạng đăng ký không phải nộp hồ sơ yêu cầu phối hợp.

  • Hồ sơ Đăng ký vào Bảng tần số chủ: gồm các thông số giống hồ sơ Yêu cầu phối hợp nhưng giá trị các thông số này là giá trị cuối cùng (đạt được qua các cuộc phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh với các nước).

Sau khi Việt Nam hoàn tất các cuộc họp phối hợp và báo cáo đầy đủ cho ITU liên quan đến vấn đề giải quyết can nhiễu, Việt nam sẽ phải gửi hồ sơ đăng ký vào Bảng tần số chủ cho ITU. Trong khi kiểm tra sơ này, ITU có thể yêu cầu Việt Nam cung cấp các báo cáo liên quan đến vấn đề giải quyết can nhiễu với các nước liên quan.

  • Hồ sơ Về việc phóng vệ tinh: thông tin về tên lửa phóng vệ tinh (hãng sản xuất tên lửa, loại tên lửa), ngày dự kiến phóng vệ tinh, bãi phóng vệ tinh, …
  • ITU kiểm tra hồ sơ đăng ký mới (Hồ sơ đăng ký mới sẽ được ITU kiểm tra xem có đầy đủ thông tin theo qui định hay không):
  • Khi ITU xử lý bộ hồ sơ của Việt Nam nếu các thông tin đăng ký trong Hồ sơ đầy đủ thì ITU sẽ nhận Hồ sơ.

Lưu ý 1: Hồ sơ đầy đủ thông tin sẽ được ITU chấp nhận (đủ điều kiện nộp hồ sơ). Tuy nhiên, sau đó ITU sẽ xem xét, đánh giá các tham số kỹ thuật của Hồ sơ có đáp ứng các qui định của Thể lệ (Nghị quyết, Khuyến nghị, Ghi chú, Điều khoản qui định, Kết quả phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh với các nước) sau đó sẽ xuất bản các thông tin này trong đĩa BR-IFIC trong vòng 3 tháng  kể từ ngày ITU nhận được hồ sơ (bao gồm cả các đánh giá các tham số nào là hợp lệ, các tham số nào là không hợp lệ, liệt kê danh sách các mạng vệ tinh bị ảnh hưởng do mạng vệ tinh mới đăng ký gây ra).

Lưu ý 2: Các nhà khai thác mạng vệ tinh (doanh nghiệp, tổ chức sử dụng) phải có tránh nhiệm theo dõi, giám sát các mạng vệ tinh mới được đăng ký và được ITU xuất bản, trong trường hợp xác định các mạng vệ tinh mới đăng ký có khả năng gây ảnh hưởng cho mạng vệ tinh của nhà khai thác mạng vệ thì trong thời hạn 04 tháng sau thời điểm ITU xuất bản mạng vệ tinh mới phải thông báo cho cơ quan quản lý (Cục Tần số vô tuyến điện-Bộ thông tin và Truyền thông) gửi yêu cầu nước đăng ký mạng vệ tinh mới phải phối hợp. Trong trường hợp nhà khai thác mạng vệ tinh quên không thực hiện nhiệm vụ này thì có thể mất quyền lợi (mất quyền được bảo vệ mạng vệ tinh đang hoạt động).

  • Trong trường hợp ngược lại thì ITU yêu cầu Việt Nam cung cấp các thông tin còn thiếu trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ITU gửi yêu cầu. Nếu Việt Nam không đáp ứng được thì bộ hồ sơ coi như không hợp lệ.
  • Phí hồ sơ: Hồ sơ vệ tinh được đăng ký sẽ phải chịu phí xử lý hồ sơ vệ tinh theo quy định của Nghị quyết 482.

Ví dụ đối với hồ sơ mạng vệ tinh địa tĩnh mà phải thực hiện phối hợp với các mạng vệ tinh liên quan, Nghị quyết 482 qui định: hồ sơ xuất bản trước của vệ tinh sẽ không phải mất phí; phí hồ sơ Yêu cầu phối hợp: 24.620CHF (hai tư nghìn sáu trăm hai mươi france Thụy sỹ); phí hồ sơ Đăng ký vào Bảng tần số chủ: 57.920CHF (năm mươi bẩy nghìn chín trăm hai mươi france Thụy sỹ).

  1. Nghĩa vụ thực hiện phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh với các nước khác

Hồ sơ yêu cầu phối hợp được ITU kiểm tra, đánh giá khả năng gây can nhiễu và xuất bản hồ sơ này cùng với một danh cách mạng vệ tinh của các nước bị ảnh hưởng. Khi đó nước đăng ký mạng vệ tinh mới (Việt Nam) phải thực hiện phối hợp với tất cả các mạng vệ tinh bị ảnh hưởng trong danh sách đó. Số lượng các nước phải phối hợp thường rất lớn (vài chục nước).

Ngoài ra, sau khi ITU xuất bản các thông tin trong đĩa BRIFIC (xuất bản thông tin tần số quốc tế về nghiệp vụ vệ tinh của BR), trong vòng 4 tháng kể từ khi xuất bản nếu có bất kỳ cơ quan quản lý của một nước nào phản đối hệ thống vệ tinh mới đăng ký (yêu cầu Việt Nam phải phối hợp) thì Việt Nam cũng phải thực hiện các cuộc phối hợp theo yêu cầu của nước đó.

Khi một nước đăng ký mạng vệ tinh dù sau mạng vệ tinh của Việt Nam (có mức ưu tiên thấp hơn mạng vệ tinh của Việt Nam) đề nghị phối hợp thì cơ quan quản lý Việt Nam (Bộ Thông tin và Truyền thông) vẫn phải có nghĩa vụ thực hiện (sắp xếp lịch) phối hợp với nước đó. Do đó việc phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh là công việc thường xuyên kể từ khi đăng ký hồ sơ (kể cả sau khi vệ tinh đã đi vào hoạt động), là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhà khai thác mạng vê tinh, của cơ quản quản lý.

Thực hiện phối hợp mạng vệ tinh mới đăng ký với các nước có thể được thực hiện giữa các nhà khai thác mạng vệ tinh (cấp nhà khai thác) hoặc giữa cơ quan quản lý Việt Nam (Bộ Thông tin và Truyền thông) và cơ quan quản lý các nước (cấp cơ quan quản lý).

  • Kết quả phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh cấp nhà khai thác chỉ có hiệu lực khi được Bộ Thông tin và Truyền thông phê chuẩn.

 

2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ QUI ĐỊNH ĐĂNG KÝ PHỐI HỢP TẦN SỐ QUỸ ĐẠO VỆ TINH CỤ THỂ

2.1    Các thành phần của hệ thống vệ tinh

Mô hình tổng quát các thành phần của một hệ thống vệ tinh:

Theo khái niệm chung một mạng vệ tinh là một phần của một hệ thống vệ tinh bao gồm vệ tinh và các đài trái đất (qui định RR. 1.112 của Thể lệ vô tuyến điện). Một mạng vệ tinh bao gồm các thành phần:

  • Vệ tinh.
  • Đài trái đất: là một đài được đặt trên mặt đất hoặc trong đặt trong phần chính của khí quyển và có mục đích thông tin:

+ Với một hoặc nhiều trạm không gian; hoặc

+ Với một hoặc nhiều trạm cùng loại qua các vệ tinh phản xạ hoặc các vật thể khác trong không gian (RR. 1.63).

  • Quỹ đạo vệ tinh.
  • Tần số của mạng vệ tinh.
  • Vùng phủ và vùng dịch vụ của vệ tinh

Công cụ để tiến hành khai báo các tham số và xây dựng hồ sơ vệ tinh là phần mềm SpaceCap của ITU.

2.2   Các loại quỹ đạo vệ tinh

Theo qui định của ITU, hệ thống thông tin vệ tinh có 2 dạng quỹ đạo:

1.     Vệ tinh quỹ đạo địa tĩnh – Geostationary Satellite Orbit (GSO)

2.     Vệ tinh quỹ đạo phi địa tĩnh – Non-Geostationary Satellite Orbits (non-GSO).

2.3    Các loại đài trái đất

Đài trái đất cụ thể (specific) và đài trái đất điển hình (typical). Đối với đài trái đất cụ thể thì tọa độ của đài trái đất phải được cung cấp.

2.4    Các loại nghiệp vụ vệ tinh

  1. Nghiệp vụ Cố định qua vệ tinh (Fixed – Satellite Service):

Là nghiệp vụ thông tin vô tuyến giữa các đài trái đất ở các vị trí xác định thông qua một hoặc nhiều vệ tinh, vị trí xác định đó có thể là một điểm cố định xác định hay bất kỳ điểm cố định nào đó trong các vùng xác định; trong một số trường hợp thì nghiệp vụ này bao gồm các đường thông tin từ vệ tinh tới vệ tinh; nghiệp vụ cố định qua vệ tinh cũng có thể bao gồm các đường tiếp sóng đối với các nghiệp vụ thông tin vô tuyến vũ trụ khác.

  1. Nghiệp vụ Di động qua vệ tinh (Mobile – Satellite Service)

Là nghiệp vụ thông tin vô tuyến điện:

  • Giữa các đài trái đất di động với một hoặc nhiều đài vũ trụ, hoặc giữa các đài vũ trụ với nhau được sử dụng bởi nghiệp vụ này.
  • Giữa các đài trái đất di động thông qua một hay nhiều đài vũ trụ.

Nghiệp vụ này cũng có thể bao gồm các đường tiếp sóng cần thiết cho hoạt động của nghiệp vụ.

  1. Nghiệp vụ Quảng bá qua vệ tinh (Broadcasting – Satellite Service): là nghiệp vụ thông tin vô tuyến, trong đó các tín hiệu được phát hoặc phát lại bởi các đài vũ trụ dành cho công chúng thu trực tiếp.

Trong nghiệp vụ Quảng bá qua vệ tinh, thuật ngữ “thu trực tiếp” bao gồm cả thu riêng lẻ và thu tập trung.

  1. Các nghiệp vụ vệ tinh khác như nghiệp vụ thăm dò trái đất qua vệ tinh.

2.5    Băng tần quy hoạch và không quy hoạch

Thể lệ vô tuyến điện sử dụng hai cơ chế để phân chia tần số: băng tần quy hoạch và băng tần không quy hoạch.

  • Băng tần quy hoạch: dải tần số thuộc băng tần này và các thủ tục đăng ký phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh được qui định tại Phụ lục 30/30A/30B  thuộc quyển 2 – Thể lệ vô tuyến điện (ITU). Mỗi nước thành viên của ITU sẽ được phân bổ 01 vị trí quỹ đạo thuộc băng tần này sẵn sàng cho việc phóng vệ tinh với vùng dịch vụ chỉ phủ quốc gia đó. Trong trường hợp muốn phủ rộng hơn, hoặc tham số kỹ thuật tốt hơn giá trị theo phân bổ thì phải thực hiện các thủ tục đăng ký phối hợp theo đúng các qui định thuộc các phụ lục này.
  • Băng tần không quy hoạch: là băng tần không thuộc băng tần trên mà một nước (một nhà khai thác của nước đó) có thể áp dụng các quy định của Thể lệ cho một băng tần, vị trí và vùng phủ xác định để sử dụng. Băng tần không quy hoạch hoạt động dựa trên nguyên tắc “ai đăng ký trước thì được sử dụng trước”. Nước đăng ký sau (Nhà khai thác đến sau) phải bảo vệ mạng vệ tinh được đăng ký trước.
  1. Băng tần không quy hoạch

Như đã trình bày ở trên băng tần không quy hoạch được sử dụng theo nguyên tắc ai đăng ký trước được trước và nhà khai thác đến sau phải bảo vệ các nhà khai thác đến trước. Để sử dụng băng tần này cần tiến hành các thủ tục đăng ký và phối hợp với các cơ quan quản lý khác để đạt được sự công nhận quốc tế cho ấn định tần số của mạng vệ tinh.

Có các bước cơ bản trong thủ tục đăng ký phối hợp tần số quỹ đạo vệ tinh đối với băng tần không quy hoạch như sau:

  • Giai đoạn thông báo sơ bộ

Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình phối hợp. Giai đoạn này có sự khác nhau đối với trường hợp mạng vệ tinh không phải phối hợp và đối với mạng vệ tinh phải phối hợp (phải gửi hồ sơ CR/C) theo quy định của Điều 9.

Đối với các mạng vệ tinh không phải gửi hồ sơ phối hợp (CR/C), trước hết, cơ quan quản lý phải gửi hồ sơ xuất bản sơ bộ đến BR (hồ sơ API). Hồ sơ này gồm các mô tả chung về mạng hoặc hệ thống vệ tinh chuẩn bị được triển khai. Hồ sơ sẽ được ITU xuất bản trên đĩa BRIFIC. Các nước sẽ có thời gian 04 tháng sau khi hồ sơ xuất bản để yêu cầu nước đăng ký mạng vệ tinh mới phải phối hợp.

Đối với các mạng vệ tinh phải gửi hồ sơ phối hợp CR/C thì không cần gửi hồ sơ API. Sau khi gửi hồ sơ CR/C ở giai đoạn phối hợp thì ITU sẽ có trách nhiệm tạo hồ sơ API có ngày nhận trùng với ngày nhận hồ sơ CR/C (qui định này được áp dụng từ ngày 01/01/2017).

  • Giai đoạn yêu cầu phối hợp (giai đoạn này có thể bỏ qua nếu mạng vệ tinh không nằm trong các trường hợp quy định tại Điều 9.7)

Trước khi một cơ quan quản lý có thể khai báo đưa ấn định vào bảng tần số chủ và đưa ấn định tần số vào sử dụng, CQQL phải tiến hành phối hợp với các mạng vệ tinh bị ảnh hưởng theo quy định của Thể lệ.

Trong giai đoạn này, CQQL phải thực hiện việc gửi hồ sơ Yêu cầu phối hợp. Đây là hồ sơ gồm các thông số kỹ thuật của vệ tinh theo định dạng của ITU. Hồ sơ này còn được gọi là hồ sơ CR/C.

Hồ sơ CR/C sẽ được ITU xử lý và xuất bản cùng với thông tin về các mạng vệ tinh bị ảnh hưởng. Các nước sẽ có thời gian 4 tháng để kiểm tra và đưa ra yêu cầu phối hợp.

  • Giai đoạn khai báo đưa ấn định vào bảng tần số chủ

Việc khai báo một ấn định tần số với BR sẽ tuân theo các quy định của Điều 11 của Thể lệ. Đây là bước cuối cùng về mặt Thể lệ để ghi ấn định vào bảng tần số chủ. Theo quy định tại điều khoản 11.2 và 11.9, tất cả tần số được sử dụng cho vệ tinh phải được khai báo với ITU, ví dụ:

+ Việc sử dụng tần số có thể gây nhiễu hoặc có khả năng gây nhiễu hoặc có khả năng bị nhiễu từ mạng vệ tinh khác;

+ Ấn định tần số được sử dụng cho thông tin quốc tế;

+ Các ấn định tần số được áp dụng các quy định của Điều 9;

+ Cần thiết đạt được sự công nhận quốc tế về tần số.

Theo quy định của điều 11.44.1, hồ sơ Notification hoàn chỉnh phải được gửi đến ITU trước thời hạn 7 năm kể từ ngày nhận của hồ sơ API hoặc hồ sơ CR/C.

Khi ITU nhận được hồ sơ, hồ sơ sẽ được kiểm tra và xuất bản. Nếu ITU xác định rằng hồ sơ vệ tinh đã tuân thủ các quy định của Thể lệ (điều 11.30 đến 11.34) thì hồ sơ vệ tinh sẽ được ghi vào bảng tần số chủ.

  • Giai đoạn thông báo đưa vệ tinh vào sử dụng (Hồ sơ phóng vệ tinh)

Đối với các mạng vệ tinh sử dụng nghiệp vụ Cố định qua vệ tinh, Quảng bá qua vệ tinh và Di động qua vệ tinh, CQQL cần gửi hồ sơ phóng vệ tinh (RS49) trước khi phóng vệ tinh. Đây là hồ sơ cung cấp các thông tin về việc vệ tinh thật được phóng lên quỹ đạo.

b) Băng tần quy hoạch

Băng tần qui hoạch có các thủ tục của ITU tương đối khác so với băng tần không quy hoạch. Các băng tần quy hoạch nằm dưới các quy định về quy hoạch để đảm bảo sử dụng công bằng tài nguyên tần số và quỹ đạo vệ tinh. Đối với băng tần đã được quy hoạch cho một quốc gia thì không cần thiết phải tiến hành các thủ tục phối hợp.

Thể lệ vô tuyến điện gồm 03 phụ lục quy định về băng tần quy hoạch. Các phục lục sẽ bao gồm các thủ tục và kỹ thuật gồm:

  • Phụ lục 30 (AP30-Appendix 30), quy định thủ tục và điều kiện kỹ thuật cho nghiệp vụ Quảng bá qua vệ tinh (BSS) chiều xuống. Phụ lục 30A (AP30A-Appendix 30A), quy định thủ tục và điều kiện kỹ thuật cho nghiệp vụ BSS chiều lên.

Băng tần qui hoạch cho nghiệp vụ quảng bá qua vệ tinh (BSS), gồm:

  • Khu vực 1:
    • 11.7 - 12.5 GHz (đường xuống)
    • 14.5 - 14.8 GHz (đường lên)
    • 17.3 - 18.1 GHz (đường lên)
  • Khu vực 2:
    • 12.2 - 12.7 GHz (đường xuống)
    • 17.3 - 17.8 GHz (đường lên)
  • Khu vực 3:
    • 11.7 - 12.2 GHz (đường xuống)
    • 14.5 - 14.8 GHz (đường lên)
    • 17.3 - 18.1 GHz (đường lên)

Đối với các mạng vệ tinh trong băng tần quy hoạch của AP30/30A việc đăng ký và phối hợp sẽ trải qua các giai đoạn:

  • Khai báo hồ sơ vệ tinh theo Điều 4 để chuyển quy hoạch thành ấn định hoặc bổ sung ấn định mới.
  • Khai báo hồ sơ ghi ấn định vào bảng tần số chủ (Điều 5).
  • Nộp hồ sơ khai báo phóng vệ tinh (Res. 49).
  • Thời hạn từ khi bắt đầu đến khi phóng vệ tinh tối đa là 8 năm.

Quy trình như sau:

  • Phụ lục 30B (AP30B-Appendix 30B), quy định thủ tục và điều kiện kỹ thuật cho cho nghiệp vụ Cố định qua vệ tinh (FSS).

Băng tần qui hoạch cho nghiệp vụ cố định qua vệ tinh (FSS) gồm:

  • 4 500 và 4 800 MHz (đường xuống);
  • 6 725 và 7 025 MHz (đường lên);
  • 10.70 và 10.95 GHz (đường xuống);
  • 11.20 và 11.45 GHz (đường xuống);
  • 12.75 và 13.25 GHz (đường lên).

Đối với các mạng vệ tinh trong băng tần quy hoạch của AP30B việc đăng ký và phối hợp sẽ trải qua các giai đoạn:

  • Khai báo hồ sơ vệ tinh theo Điều 6 để chuyển quy hoạch thành ấn định hoặc bổ sung ấn định mới.
  • Khai báo hồ sơ ghi ấn định vào bảng tần số chủ (Điều 8).
  • Nộp hồ sơ khai báo phóng vệ tinh (Res. 49).

Thời hạn từ khi bắt đầu đến khi phóng vệ tinh tối đa là 8 năm.

Quy trình như sau:

Kết luận

Quá trình chuẩn bị về mặt tần số và quỹ đạo vệ tinh là quá trình lâu dài theo trình tự các bước được quy định bởi Thể lệ vô tuyến điện quốc tế. Để chuẩn bị tốt cho quá trình này cần có nghiên cứu khả thi về mặt phổ tần và quỹ đạo cũng như tích cực tiến hành phối hợp với các nước.

Phụ lục: Tài liệu liên quan

  • Luật Tần số vô tuyến điện (ban hành năm 2009).
  • Thể lệ vô tuyến điện (ban hành năm 2015).
  • Quy hoạch phổ tần số quốc gia (ban hành năm 2016).